Kim Cang Công Truyền và thời kỳ
hưng thịnh của Thiền Tông
Lê
Anh Chí
______________________________
Dàn Bài :
I) Giáo ngoại biệt
truyền
II) Kim Cang Công Truyền
Ngũ Tổ làm một cuộc đại cách
mạng
Phương
Thức Kiến Tánh : Công Truyền của Thiền Tông
So
sánh với Kinh Lăng Già
Tự tu, tự chứng,
tự thành
Thọ tŕ Kinh Kim Cang
III) Thời kỳ phôi thai của Thiền Tông
IV) Ngũ Tổ : thời kỳ
hưng thịnh của Thiền Tông
Đông
Sơn pháp môn
Kim Cang Công
Truyền
Hai học tṛ làm quốc sư
Kim
Cang Công Truyền đến vùng biên địa
Sự hoằng pháp của
Huệ An
Ngưu Đầu Thiền
Tranh giành y bát
Ngưng truyền y bát
______________________________
Việc tu hành của pháp môn
Kiến Tánh gồm 3 Phương Thức:
1)
truyền tâm ấn tâm (giáo ngoại biệt truyền)
2)
tự tu bằng Kinh Kim Cang
3)
khán công án, thoại đầu
I) Giáo ngoại biệt
truyền
Phương Thức thứ nhất : từ khi Tổ Ca Diếp ngộ,
khi Đức Như Lai giơ cành hoa, Thiền Tông vẫn
là giáo ngoại biệt truyền :
Thầy : Ngoài giáo truyền riêng
Thầy : Chẳng lập văn tự
Thầy : Chỉ thẳng tâm người (học tṛ)
Tṛ : Kiến Tánh Thành Phật
hay :
Thầy : Ngoài giáo truyền riêng
Thầy : Chẳng lập văn tự
Thầy : Chỉ thẳng Chân Tâm
( của học tṛ)
Tṛ : Kiến Tánh Thành Phật
Đây là Thầy khéo dùng
phương tiện để Chỉ thẳng Chân/Nhân Tâm .
Sự ‘khéo dùng phương tiện’ này tùy thuộc vào
thiền lư của Thầy và căn cơ của Tṛ. Nên
gọi là ‘Giáo ngoại biệt truyền’ : truyền riêng từ thầy sang tṛ.
II) Kim Cang Công Truyền
Phương Thức thứ hai là Kim Cang Công Truyền ; mà Tổ
Sư là Ngũ Tổ
Gọi là công truyền
để đối với biệt
truyền :
1) Ngũ Tổ đă làm
một cuộc đại cách mạng : ngài dạy rằng thọ tŕ Kinh Kim Cang có
thể thấy tánh. Nghĩa là ta có thể tự tu, tự
chứng Chân Tâm bằng Kinh Kim Cang !
Như thế, theo Ngũ Tổ, Kinh Kim Cang chứa những chuyển
ngữ làm cho ta có thể
thấy Tánh. V́ đây là Kinh : lời Kinh
có thể hiểu và thực hành bởi tất cả
mọi người, nên gọi là công truyền. V́ dùng Kinh
Kim Cang nên tôi gọi là Kim Cang công truyền
2) Dĩ nhiên là Kinh Kim Cang
đă được truyền dạy từ lâu
trước Ngũ Tổ. Nhưng Ngũ Tổ là
người đầu tiên dùng Kinh này làm Phương
Thức Kiến Tánh. Ngay Phật cũng không có dạy
như thế !
Một Phương Thức
độc đáo !
Đây là Kim Cang Công Truyền của Thiền Tông !
3) C̣n Kinh Lăng Già ?
Tổ Đạt Ma trao Kinh Lăng
Già cho Nhị Tổ. Sự kiện này nhiều
người chẳng phải Thiền Tông cũng biết,
ngay đến Kim Dung cũng dùng nó : trong Ỷ Thiên
Đồ Long Kư, nhà văn bịa rằng Tổ
Đạt Ma đă viết Cửu Dương Chân Kinh trong
Kinh Lăng Già !
( Xem bài viết "Luận Kiếm"
Xem bài viết "Đạt Ma Sư Tổ"
)
Thế nhưng :
_Tổ Đạt Ma chẳng dùng Kinh Lăng Già để
dạy Kiến Tánh !
Tổ Đạt Ma đă trao Kinh Lăng Già lúc ra đi, khi
Nhị Tổ đă Kiến Tánh từ lâu. Kinh Lăng Già ,
do đó , có thể xem như là để ấn chứng
hơn là phương thức Kiến Tánh.
_Chính Nhị Tổ cũng chẳng dùng Kinh Lăng Già
để dạy Kiến Tánh .
C̣n Kinh Kim Cang th́ được dùng làm phương thức
Kiến Tánh :
_Ngũ Tổ đă dùng Kinh Kim Cang làm phương thức
Kiến Tánh để dạy học tṛ
_Ngũ Tổ đă dùng Kinh Kim Cang làm phương thức
Kiến Tánh để dạy mọi người,
đại chúng, thiện nam tín nữ v v
_Kinh Kim Cang là phương thức Kiến Tánh đă
được kiểm chứng ngay sau đó ( Huệ
Năng ngộ)
_Lục Tổ cũng quảng bá pháp này ( dĩ nhiên, v́ là
sở ngộ của Tổ )
Kinh Kim Cang là phương thức Kiến Tánh !
Phương Thức này là Kim Cang Công Truyền ; mà Tổ
Sư là Ngũ Tổ!
4) Tự tu,
tự chứng, tự thành
Phương thức Kim Cang Công
Truyền , ngoài cuộc cách mạng ‘Công Truyền’ c̣n là
một phương thức tự tu tự chứng.
Từ khởi thủy, tu theo
Thiền Tông cần có thầy. Sự chứng ngộ
của người tu tùy thuộc vào : a)thiền lư của thầy b)
sự thấu hiểu căn cơ của học tṛ
bởi người thầy c)
sự áp dụng hai điều trên để thầy cho ra
câu chuyển ngữ
Kim Cang Công Truyền phá vỡ quan
niệm ‘cần có thầy’ . Người tu chỉ cần
Kinh Kim Cang. Đại cánh mạng !
( Sau này, phương thức ‘khán công án, thoại đầu’ cũng cần có thầy :
_áp dụng qui luật, qui tắc,
thanh qui của việc đả thiền thất
_người thầy ít nhất
phải biết hướng dẫn người tu trong
từng giai đoạn
_có thể có thiền bệnh : cần thầy để giải
trừ
)
Tóm lại, chỉ có Kim Cang Công
Truyền là tự tu, tự
chứng, tự thành Phật Đạo !
5) Từ khi Ngũ Tổ quảng bá Kim
Cang Công Truyền , người ta đua nhau thọ
tŕ Kinh Kim Cang . Bởi thế, lúc Ngũ Tổ c̣n tại
thế, nơi vùng biên địa Lưỡng Quảng có
người đọc tụng Kinh Kim Cang ; và cư
sĩ Huệ Năng ngộ !
Trong văn
học sử Ta và Tàu, có nhiều người thọ tŕ
Kinh Kim Cang. Vài ví dụ :
_ái thiếp
của Tô Đông Pha là Triêu Vân
_thi hào Nguyễn
Du
_nhà cách mạng
Phan Bội Châu
III) Thời kỳ phôi thai của
Thiền Tông
Thời kỳ phôi thai của Thiền Tông là thời kỳ của ba vị
tổ đầu tiên : Tổ Đạt Ma, Huệ
Khả và Tăng Xán.
Thiền Tông không
thể hưng thịnh ngay được v́ :
_việc ǵ cũng cần
thời gian để phát
triển
_những ǵ
Tổ Đạt Ma nói rất mới với quần chúng
Trung Hoa thời đó ; mặc dù lúc đó Phật Pháp
rất hưng thịnh.
_duyên nghiệp : duyên
nghiệp của Nhị Tổ (lang bạt giang
hồ, bị tử h́nh) , pháp nạn thời Tam Tổ.
Thời Tứ
Tổ Đạo Tín là thời kỳ chuyển
tiếp : thời kỳ Thiền Tông củng cố
‘lực lượng’ để chuyển ḿnh sang thời
kỳ ngự trị Phật giáo Trung Hoa !
IV) Ngũ Tổ : Thời kỳ hưng thịnh
của Thiền Tông
Người ta
thường nói : Thiền-tông đến đời Lục Tổ mới phát triển mạnh
Sự thực, th́
Thiền-tông đến
đời Ngũ Tổ mới phát
triển mạnh và có đường lối vửng
chắc đặc thù.
Ngũ Tổ chớ chẳng phải Lục
Tổ . Sau đây là những bằng chứng.
1) Đông Sơn pháp môn
Thiền Tông trước kia,
được gọi là Đông Sơn pháp môn. Sao lại là
Đông Sơn pháp môn ? - Đông Sơn là
nơi tọa lạc của Ngũ Tổ. Ngũ Tổ và
Tứ Tổ đều hoằng pháp ở huyện Hoàng
Mai, nơi đây có hai quả núi Tây và Đông Sơn. Chùa
của Tứ Tổ ở núi Tây, Ngũ Tổ kế
thừa sự nghiệp, mới đầu cũng ở
chỗ này. Sau v́ sự nghiệp hoằng pháp của Ngũ
Tổ càng ngày càng lớn, nên phải dời ra Đông
Sơn chùa mới có thể chứa nhiều tăng chúng (và
cư sĩ) tụ họp.
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn,
Lục Tổ cũng nói là ngài truyền bá Đông Sơn
pháp môn .
2) Kim Cang Công Truyền
Khi Kiến Tánh th́
đồng chứng Phật-tâm như nhau nhưng khác nhau
ở thiền lư ; mà thiền lư của Ngũ Tổ th́ siêu
việt v́ ngài phát minh ra phương thức : luyện
kinh Kim Cang để Kiến Tánh
Xem
bài viết "Nguyên Lư
Phương Thức Thiền Tông"
Ngũ Tổ phát minh ra phương thức Kim Cang Công Truyền , một cuộc đại cách mạng !
Đây chính là Phật Giáo Phát
Triển.
Đây chính là cái mốc
đánh dấu sự Phát Triển, sự hưng thịnh
của Thiền Tông !.
3) Hai học tṛ
làm quốc sư
Ngũ Tổ có đến hai học tṛ làm quốc sư: Huệ An và
Thần Tú !
Điều này chứng
tỏ sự ngưỡng mộ của mọi
người đối với Ngũ Tổ ; và do
đó đối với Thiền Tông !
Hơn nữa, Huệ An c̣n
là thiền sư đầu tiên làm quốc sư ở Trung
Hoa ! ( Thần Tú không được kể là thiền
sư, v́ chưa Kiến Tánh )
4) Kim Cang Công Truyền
đến vùng biên địa
Ngũ Tổ dạy rằng
thọ tŕ Kinh Kim Cang có thể thấy Tánh.Khi Ngũ Tổ c̣n tại thế,
nơi vùng biên địa Lưỡng Quảng có
người đọc tụng Kinh Kim Cang ; và cư
sĩ Huệ Năng ngộ ! Xin nhớ rằng
thời nhà Đường, vùng đất Lĩnh Nam,
gồm Lưỡng Quảng và nước ta ( tức là
đất Nam Việt của Triệu Vũ Vương)
bị xem là biên địa, man di và người Lĩnh Nam
bị xem là man di mọi rợ.
Sự kiện
này cho thấy ảnh hưởng lớn lao của Ngũ
Tổ, khi Ngũ Tổ c̣n tại thế. Dấu hiệu
của sự hưng thịnh của Thiền Tông
5) Sự hoằng
pháp của Huệ An
Huệ An là
đại sư huynh của Huệ Năng và Thần Tú .
Huệ An là
bậc đạo cao đức trọng, đă Kiến
Tánh.
Tại sao
Huệ An không được truyền ngôi Tổ ?
Một lư do chính yếu là ngài đă quá già ! ngài hơn
thầy ( Ngũ Tổ ) đến hai chục
tuổi ! [ Huệ An là một du tăng, một hôm
yết kiến Ngũ Tổ được chỉ
điểm nên Kiến Tánh ; do đó tôn Tổ làm
thầy]
V́ Huệ An
hơn thầy ( Ngũ Tổ ) đến hai chục
tuổi , nên sự nghiệp hoằng pháp của ngài
rất lớn và lâu ( ngài thọ đến 128 tuổi) .
Khi Ngũ Tổ c̣n tại thế, th́ Huệ An vẫn đang hoằng
pháp ; sự phát triển của Thiền tông cũng
một phần nhờ vào vị này.
Đệ tử của An Quốc Sư có nh́ều người
nổi tiếng như Phá Táo
Đọa, Nguyên Khuê.
6) Ngưu
Đầu Thiền
Ngũ Tổ có người
sư đệ tên là Thiền sư Pháp Dung, người
sáng lập thiền phái Ngưu Đầu.
Vị TS này lớn hơn Ngũ Tổ mấy tuổi,
nhưng tôi gọi là sư đệ của Tổ, v́
‘nhập môn’ sau Ngũ Tổ đến hơn 20 năm.
Ngưu
Đầu Thiền là một chi nhánh của Thiền Tông ,
khá hưng thịnh, có một v́ vương là cư sĩ
đệ tử ( Bác Lăng Vương) và truyền
được sáu đời.
Do đó, Ngưu
Đầu Thiền cũng góp phần vào sự phát
triển Thiền Tông .
7) Tranh giành y bát
Khi đại
chúng biết Lục Tổ
được truyền y bát,
th́ có mấy trăm người đuổi theo để
đoạt lại .
Tại sao bọn kia lại
rượt Lục Tổ ?
_một số người
muốn tôn Thần Tú làm Tổ, bất chấp lệnh
Ngũ Tổ.
_Lục Tổ là người Lĩnh Nam ( tức là Lưỡng
Quảng và nước ta) , bị người Tàu coi là
mọi rợ , họ không thể chấp nhận
người mọi làm Tổ !
_Lục Tổ lại mù chữ
Cần nhớ là họ có ư
định giết Lục Tổ ; đây
là lư luận xưa nay của Tàu : ngôi Tổ
như ngôi vua, muốn cướp ngôi vua, th́ phải
giết vua !
Mấy mươi năm sau
, họ vẫn không từ bỏ ư định này và sai
mướn Hạnh Xương đi hành thích Lục
Tổ.
Dĩ nhiên,
sự tranh giành y bát chỉ giới hạn cho một
số người có thành kiến xấu xa, ganh tị, ghét
ghen. C̣n Ngũ Tổ có Thập Đại Đệ Tử
, th́ những vị này , dĩ nhiên không tranh giành y bát .
Bọn người rượt theo Lục Tổ không do
Thần Tú sai đi.
Sự tranh giành y
bát này, lúc Ngũ Tổ c̣n tại thế, cho thấy
rằng Thiền Tông đang hưng thịnh. Bởi v́
nếu Thiền Tông không hưng thịnh th́ thiên hạ
đâu thèm để ư ǵ đến ngôi Tổ. V́ Thiền
Tông đang hưng thịnh, nên bọn người tầm
thường đó mới coi ngôi Tổ
như ngôi vua !
8) Ngưng
truyền y bát
Ngũ Tổ khi
truyền y bát , có dạy Lục Tổ sau đó phải
ngưng truyền y bát .
Ngũ Tổ có
giảng tại sao : y bát là vật làm tin , nay tông môn
của Tổ thiên hạ đều biết rơ, nên không
cần truyền y bát nữa !
Ta có thể
diễn nghĩa :
Tông môn của
Tổ thiên hạ đều biết rơ = Thiền Tông
đang hưng thịnh
Vậy,
Ngưng
truyền y bát = dấu hiệu Thiền Tông đang hưng
thịnh
( Tại sao
Ngũ Tổ không ngưng truyền y bát , mà lại dạy
Lục Tổ sau đó phải ngưng truyền y bát ?
_V́ Ngũ Tổ
muốn truyền y bát cho Lục Tổ , nếu Lục
Tổ chẳng được Y Bát th́ chẳng thể
dạy đạo : không ai theo học người man di
mà lại mù chữ !
)
--------------------
Thời Ngũ Tổ là
bắt đầu thời
kỳ hưng thịnh của Thiền Tông . Thời kỳ này kéo dài qua các thời
đại Đường , Tống , Nguyên ( ở nước ta,
Đường, Lư , Trần)
Đến đời Minh ,
ta thấy sự phát triển của Tịnh Độ và
sự suy sụp của Thiền Tông.
Trong ṿng 150 năm nay,
Phật Giáo bị ngoại đạo lấn át và Thiền
Tông thoái hóa, ở cả nước Ta và Tàu.
*
* Lê Anh Chí *.
______________
Kinh sách tham khảo
Kinh :
Kinh
Đại Bát Niết Bàn, dịch giả Thích Trí Tịnh
Đại
Thừa Kim Cang Kinh Luận
Cuộc
đời Đức Phật (Trích dẫn Kinh), dịch
giả Thích Trung Quán
Kinh
Kim Cang, dịch giả Đoàn Trung C̣n
Kinh
Kim Cang, dịch giả Thích Duy Lực
Kinh
Kim Cang, dịch giả Thích Thiện Hoa
Kinh
Lăng Nghiêm, dịch giả Trí Độ và Tuệ Quang
Kinh
THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG, dịch giả Nhẫn Tế
Kinh
Trường A Hàm, dịch
giả Thích Thiện Siêu
Kinh Vô Ngă Tướng, dịch giả Phạm
Kim Khánh
Ngữ Lục (đến
đời Lục Tổ):
Sáu
cửa Thiếu Thất, Đạt Ma Sư Tổ,
dịch giả Trúc Thiên
Kinh
Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ, dịch giả Thích Duy
Lực
Kinh
Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ, dịch giả Thích Minh
Trực
Chứng Đạo Ca, Huyền Giác, dịch giả Trúc Thiên
Ngữ Lục (sau
đời Lục Tổ):
Bá
Trượng Ngữ Lục, dịch giả Thích Duy
Lực
Truyền
Tâm Pháp Yếu, Hoàng Bá, dịch giả Thích Duy Lực
Cội
nguồn truyền thừa và phương pháp tu tŕ của
thiền tông, Nguyệt Khê, dịch giả Mai Phúc Hiền
Chơn
tâm trực thuyết, Phổ Chiếu
Lâm
Tế Ngữ Lục
Thiền
Đốn Ngộ, nhiều tác giả : Huyền Giác, Huệ Hải, Thạch Thành Kim,
Oánh Sơn, Hư Vân; dịch
giả Thích Thanh Từ
Tọa
Thiền Luận, Đại Giác, dịch giả Như
Hạnh
Tu
tâm quyết, Phổ Chiếu
Sách :
Tứ Diệu Đế, Thích Thiện Hoa
Thiền
Sư Việt Nam, Thích Thanh Từ
Tổ
Thiền Tông, Thích Thanh Từ
Trang Nhà Kiến Tánh www.kientanh.com
--------------------------------------------------------------
* Trang Chính * M ụ c L ụ c * Đoản Luận
* Thơ *
------------------------------------------------------------------------------
* Hộp Thư * Bài mới
* Nối kết Trang Nhà
Phật Pháp Việt Nam *
------------------------------------------------------------------------------